Thông báo:

Nhớ Like or share, comment nhiệt tình nếu thấy bài viết bổ ích nhé! tks mọi người

Web liên quan Web Tang Like+ View Choi game online Lop hoc tieng nhat Gunny Free

Friday, January 2, 2015

Chuyển câu sang romaji bằng Google

Chuyển câu sang romaji bằng Google

Đừng bao giờ nhờ người khác việc bạn tự làm được!
自分ができることは他人に任せないこと。

http://translate.google.com.vn/#ja/vi/

(Có ở cột phải trang SaromaLang => Google Dịch)
Có thể thay #ja/vi/ bằng #ja|vi|


Thursday, January 1, 2015

Kinh nghiệm

Kinh nghiệm

Nội dung đang được xây dựng ...

Xin mời các bạn viết bài đóng góp về một trong những vấn đề sau :  

1. Learning Map : Có thể tạm dịch là con đường học tập tiếng Nhật theo từng bậc học, ví dụ ban đầu sơ cấp nên học giáo trình nào, ưu nhược điểm của giáo trình đó thế nào, lên Trung cấp thì nên học tiếp giáo trình nào, rồi lên nữa thì thế nào v.v... Cứ theo mỗi gu thì con đường học từ sơ cấp lên đến Trung cấp và cao hơn sẽ có những giáo trình tương ứng, các bạn hãy chia sẻ những kinh nghiệm của mình nhé !

2. Kinh nghiệm luyện thi năng lực : hãy chia sẻ đánh giá của riêng bạn về những tài liệu bạn đã luyện qua, nếu được hãy nêu những ưu và nhược của nó so với những tài liệu khác mà bạn biết được.

3. Bạn học tiếng Nhật theo cách nào ?

4. Hán tự có khó với bạn không ?

5. Bạn mua sách tiếng Nhật ở đâu? : hãy chia sẻ với bạn học để chúng ta biết được ở đâu sẽ có sách chúng ta cần nhé.

6. Bạn thường download tài liệu học từ trang web nào ? 

... Và những chủ đề bạn quan tâm . Hãy chia sẻ để chúng ta cùng tiến bộ nhé !

Xin chân thành cảm ơn mọi người đã luôn quan tâm và đồng hành cùng Japan, My Love !


Biến âm khi chia động từ

Biến âm khi chia động từ

Bạn hãy tham khảo cách chia động từ tiếng Nhật trong bài Chia động từ tiếng Nhật.
Công thức TE/DE FORM:

Vて = V(ます)て ⊕ BIẾN ÂM

Tức là động từ chia dạng masu, bỏ masu, thêm "te" thành V(masu)te rồi biến âm.

Động từ 1 đoạn thì chỉ cần bỏ "ru" る và thêm "te" て. Bởi vì dạng "masu" của động từ 1 đoạn cũng là bỏ る và thêm ます "masu".
Còn động từ 5 đoạn thì trong bài viết cũ mình có nói cách chia sau:
u, ru, tsu -> "tte":
言う(いう):言って(いって)
帰る(かえる):帰って(かえって)
立つ(たつ):立って(たって)
Riêng:
su -> "shite": 刺す(さす) → 刺して(さして) (đâm)
mu, nu -> "nde": 飲む → 飲んで(のんで) (uống), 死ぬ(しぬ)→死んで(しんで) (chết)
gu -> "ide": 泳ぐ(およぐ) → 泳いで(およいで) (bơi)
ku -> "ite": 除く(のぞく) → 除いて (のぞいて) (trừ ra)

Tức là, dạng te/de form thường sẽ là って tte (âm lặp), hay して shite, んで "nde", いで ide, いて ite. Chúng ta hãy xem lý do một chút:
言う(いう) => iimasu => iite, nhưng iite có âm dài "ii" rất khó phát âm, nên phát âm thành って tte với âm lặp sẽ dễ hơn => itte
帰る(かえる)kaeru  => kaerimasu => kaerite, nhưng phát âm "ri" khó và dễ bị nuốt, nên nó cũng thành âm lặp "tte" => kaette
立つ(たつ)tatsu => tachimasu => tachitte, nhưng "chi" là âm gió rất khó phát âm rõ nên cũng thành âm lặp って tte => tatte
刺す(さす) sasu => sashimasu => sashite: Cái này thì khỏi nói vì nó chỉ là V(ます)て
飲む(のむ)nomu => nomimasu => nomite, chữ "mite" khó phát âm và khi nói nhanh sẽ nghe thành "nde" => nonde
死ぬ(しぬ)shinu => shinimasu => shinite, chữ "nite" cũng khó phát âm (như "mite") và dễ nghe thành "nde" => shinde
泳ぐ(およぐ)oyogu => oyogimasu => oyogite (đọc ô-yô-ghi-tê), chữ "ghi-tê" khó phát âm và dễ nghe thành "ide" => oyoide
除く(のぞく)nozoku => nozokimasu => nozokite, chữ "ki" có âm dó và rất khó đọc rõ mà nghe như "k'i" và cuối cùng nghe như "ite" => nozoite

Bảng chia động từ mới (có quy tắc) của Takahashi - 2014

Riêng する、行く、来る thì là động từ đặc biệt và cách chia hơi khác (nhưng cũng hợp lý!). Bạn hãy tham khảo trong bài chia động từ.

Biến âm này có trong rất nhiều ngôn ngữ. Ví dụ trong tiếng Hàn, thì tiếng Hàn 韓国語 Kankokugo (Hàn Quốc Ngữ) là 한국어, từng chữ một là Han + Guk + Eo (eo đọc như "o" trong tiếng Việt, còn "o" trong tiếng Hàn đọc như "ô" tiếng Việt). Nhưng do âm cuối "k" của Guk đi trước nguyên âm của Eo nên sẽ biến âm thành Hangugo, tức là Han + Gu + Go (lưu ý là viết "g" trong tiếng Hàn nhưng đọc gần giống "k" tiếng Việt). Nhưng cách này đọc vẫn khó và cách đọc thực tế lại là Hangunggo, tức là Han + Gung + Go.

Tiếng Việt cổ ngày xưa (tiếng Mường) không nói là "trời" mà là "bờ lời" hay "b'lời" nhưng do âm "b" đọc tốn hơi quá mà nói thành "t'lời" chăng, và để đỡ tốn hơi hơn nữa thì thành "t'rời" = trời cho tiện. Đây cũng là hiện tượng đơn giản hóa âm tiết cho dễ đọc, tức là biến âm.

Chọn cách nói dễ nhất

Một trong cách đặc điểm của ngôn ngữ mà Takahashi nhận thấy là người ta sẽ chọn cách nói đơn giản nhất cho đối phương có thể hiểu. Ví dụ, tiếng Việt nói là "thông minh" (聡明 Soumei) nhưng tiếng Nhật sẽ nói là:

頭がいい Atama ga ii (nghĩa đen: Đầu tốt)

Tiếng Nhật cũng có từ 聡明 đấy chứ, đó là tính từ 聡明な Soumei-na, nhưng từ này thường chỉ ý là thông minh lanh lợi hay hoạt bát. Tại sao lại không dùng 聡明な Soumei-na thay cho 頭がいい Atama ga ii?
Tôi nghĩ là do vai trò khác nhau một chút, vì 聡明な Soumei-na đã dùng cho nghĩa lanh lợi, hoạt bát rồi. Ngoài ra, nói Atama ga ii thì sẽ DỄ HIỂU HƠN khá nhiều vì không cần dùng tới chữ kanji ít dùng.

Một ví dụ kinh điển khác là chữ 場合 Ba'ai (Trường hợp). Chữ này cũng có nghĩa là "trường hợp" giống hệt tiếng Việt. Nhưng tại sao lại đọc là "ba'ai", tức là theo cách đọc thuần Nhật (kun-yomi) mà không đọc theo Hán Nhật on-yomi như cho từ ghép kanji thông thường?
Nếu đọc theo on-yomi thì sẽ là じょうごう jougou, sẽ rất khó biết là đang nói tới chữ kanji nào vì âm đọc kanji trùng nhau rất nhiều chứ không như tiếng Nhật. Riêng chữ jou có thể có tới vài trăm chữ kanji cùng cách đọc này. (Chữ Thông Minh Soumei ở trên cũng sẽ bị trùng nhiều cách đọc Sou và Mei.)
Thật ra, ban đầu tôi nghĩ nó là じょうごう jougou nhưng hiệu quả truyền đạt không cao, và cứ phải giải thích lại và rốt cuộc là nếu nói là ばあい Ba'ai thì dễ hiểu hơn nhiều, lại dễ đọc nên mọi người đều đọc 場合 (trường hợp) là ba'ai.

Đây là cách đọc thuần Nhật vì 場 đọc là "ba", tức là nơi, chỗ, place. Còn chữ Hợp 合 thì các bạn đều biết cách đọc của nó là "ai". Động từ là 合う au, tức là "hợp, thích hợp, phù hợp, ...".

Chữ "Hiện trường" 現場 Gemba cũng đọc là "ba" thay vì げんじょう Genjou vì đọc Gemba sẽ dễ đọc, dễ hiểu hơn. Chú ý là nó là げんば Genba nhưng biến âm "n" => "m" thành Gemba vì dễ đọc hơn.

Như vậy, quá trình phát triển tiếng Nhật cũng là chọn cách nói sao cho dễ nói nhất, dễ hiểu nhất, giúp cho hiệu quả truyền đạt là cao nhất.

Một từ nữa điển hình cho điều này là từ "Thủ tục" 手続き, đọc là Tetsuzuki. Có thể viết gọn là 手続. Chữ kanji này là "Thủ Tục" và nghĩa là thủ tục (procedure) như tiếng Việt. Nếu đọc âm "on-yomi" thì là しゅぞく Shuzoku, nhưng cách này khó đọc và rất dễ nhầm sang các chữ kanji khác trùng âm đọc vốn có rất nhiều. Ngay cả Shuzoku đã có thể bị trùng là  種族 Shuzoku (Chủng tộc), 習俗 Shuzoku (Tập tục), 集簇 Shuzoku.

Nhưng nếu đọc theo âm kun-yomi (thuần Nhật) thành てつづき Tetsuzuki thì lại có thể biết rất nhanh đó là chữ kanji 手続. Và cuối cùng, nó trở thành "tetsuzuki" và nghĩa vẫn là "thủ tục" như nghĩa kanji ban đầu.

Hi vọng các bạn sẽ hiểu hơn về từ vựng tiếng Nhật!

Bổ nghĩa trực tiếp cho chủ đề

Bổ nghĩa trực tiếp cho chủ đề

Tiếng Nhật khác tiếng Anh và tiếng Việt ở chỗ: Có thể dùng bổ ngữ để bổ nghĩa trực tiếp cho chủ đề (Topic / Chủ ngữ = Subject) trong khi tiếng Anh và tiếng Việt không như vậy:
  • 背が高い田中さんはバスケットボールに有利です.
  • Mr. Tanaka, who is tall, has advantage in basket ball.
  • Anh Tanaka, người có chiều cao, có lợi thế khi chơi bóng rổ.


Ở đây 背が高い se ga takai là bổ ngữ bổ nghĩa trực tiếp cho chủ đề (chủ ngữ) là 田中さん Tanaka-san. Khi dịch ra tiếng Việt thì chúng ta phải dùng đại từ (pronoun) hoặc dùng đoạn văn giải thích:

優秀な彼は簡単に大学に進学した.
Anh ấy, vốn xuất sắc, đã dễ dàng lên đại học.

優秀な学生である彼は簡単に大学に進学した.
Anh ấy, một học sinh xuất sắc, đã dễ dàng lên đại học.

その女性を好きな彼はなかなかこの町を離れない.
Anh ấy, người yêu người phụ nữ đó, mãi vẫn không rời thành phố này được.
(Dùng đại từ "người" để thay thế)

Hay cũng có thể dịch đơn giản hơn:
社長の田中さんは参加した.
Giám đốc Tanaka đã tham dự.

"VÀ" và "HOẶC" trong tiếng Nhật, cách diễn tả danh sách trong tiếng Nhật

"VÀ" và "HOẶC" trong tiếng Nhật, cách diễn tả danh sách trong tiếng Nhật

Trong tiếng Việt có thật là nhiều cách diễn tả "VÀ", "HOẶC" như "và", "cùng", "với", "hoặc", "hay", "hay là",... và tiếng Nhật cũng như vậy. Bạn luôn luôn cần diễn tả một danh sách đầy đủ và không đầy đủ. Bài này JCLASS sẽ liệt kê các cách diễn tả "VÀ" và "HOẶC" trong tiếng Nhật để các bạn tra cứu nhé!
(C) www.saromalang.com
"VÀ" trong tiếng Nhật
Tiếng Anh: and
Tiếng Nhật: …と…,…や…,…に…,…も…,および…, ....且つ(かつ)....
1. と
Từ được biết nhiều nhất là "to", nó có nghĩa là "và":
私と友達は友達ではない。
Tôi và bạn tôi không phải là bạn.
2. および 及び oyobi
Đây là "và" nhưng thường dùng trong ngôn ngữ viết hoặc các tính huống cứng nhắc trang trọng.
3. や ya
"VÀ" nhưng để diễn tả danh sách không đầy đủ.
その店は野菜や缶詰を売っている
Cửa hàng đó bán rau và đồ hộp...
4. Những chỗ nối câu
Ngoài ra những chỗ nối câu hay nối cụm từ bạn phải dịch là "và" cho tự nhiên:
-
a young and beautiful girl
若くて美しい娘
cô gái trẻ và đẹp
-
work by day and by night
昼も夜も働く
làm việc ngày và đêm
-
They left and we remained.
彼らは去り私たちは残った
Họ rời đi và chúng tôi thì ở lại.
Tham khảo: Yahoo! Japan Dictionary

"to" và "oyobi" khác nhau thế nào?
1. "oyobi" thường chỉ dùng trong ngôn ngữ viết
2. "oyobi" thường sắp xếp các danh từ ngang hàng và thường trong phạm vi hẹp hơn "to"
Ví dụ:
環境及び経済の問題 = vấn đề môi trường CŨNG NHƯ kinh tế (= vấn đề môi trường và vấn đề kinh tế)
環境と経済の問題 có thể là "môi trường và vấn đề kinh tế" mà cũng có thể là "vấn đề môi trường và kinh tế".
Mẹo dịch thuật của SAROMA JCLASS:
Chú ý là nếu bạn phải dịch cụm từ trên thì bạn nên dịch là "vấn đề kinh tế và môi trường" thì sẽ an toàn hơn vì không bị sai ý nghĩa đi (nhờ vào việc vẫn giữ được độ không rõ ràng của câu văn gốc!).
4. 且つ(かつ) katsu
Đây là một từ "VÀ" mạnh có thể dùng để gộp cả tính từ hay vế câu, được dùng để liệt kê các cụm hay vế câu có vai trò ngữ pháp và cấu tạo ngữ pháp ngang hàng.
安全かつ経済的な方案 = phương án an toàn và kinh tế (= phương án vừa an toàn vừa kinh tế)
=安全なかつ経済的な方案
(liệt kê tính chất)
研修に行くかつ将来担当者になる人たち = những người đi thực tập và sau này sẽ thành người phụ trách
Liệt kê hai tính chất (là hai vế câu!) là 研修に行く và 将来担当者になる cho 人たち.
Cách dùng: "katsu" dùng để diễn tả chính xác nên thường dùng trong văn bản pháp luật, luận văn, văn bản cần sự rõ ràng.

"HOẶC" trong tiếng Nhật
か、または 又は、若しくは もしくは、或いは あるいは、ないし・・・
1. か "ka"
Hay dùng trong ngôn ngữ nói, dưới dạng:
N + ka + N
N + ka + N + ka
Vế câu + ka + Vế câu + ka
Ví dụ:
赤か緑を使う = dùng màu đỏ hoặc xanh lá
人間か動物かがわからない = không biết là người hay động vật
行くか行かないかはっきり言って! = đi hay không đi thì nói rõ ra đi!
2. 又は matawa
"hoặc", "hay là",...: Dùng trong ngôn ngữ viết và các văn bản.
3. 或いは aruiwa
"hoặc", "hay là",...: Dùng trong ngôn ngữ viết và các văn bản.
4. 若しくは moshikuwa
"hoặc là", "hay là": Cũng như "matawa" nhưng cứng hơn.
5. ないし naishi
"hay là": Cũng như "matawa" nhưng cứng hơn.
Thường trong một câu để làm rõ sự ngang hàng của các danh từ thì có thể kết hợp các từ trên, ví dụ:
家庭裁判所は、証人を尋問し、又は鑑定、通訳若しくは翻訳を命ずることができる
Giải thích: "matawa" để "hoặc" cho hàng lớn, "moshikuwa" để "hoặc" cho hàng nhỏ hơn.

Diễn tả danh sách không đầy đủ với "ví dụ", "như"
Tiếng Nhật sẽ dùng "toka", "nado" (có thể kết hợp với nhau):
など(等):"ví dụ như", "như"
ドラゴンフルーツ、スターフルーツなどのベトナムの果物
= những hoa quả Việt Nam như thanh long, khế, ...
とか:Dùng như "hay" khi lấy ví dụ
「真理」とか「美」といった抽象的な言葉
= những từ ngữ trừu tượng chẳng hạn như "chân lý" hay "cái đẹp"
和菓子とかせんぺいなど = ví dụ như kẹo Nhật hay bánh gạo Nhật
といった:= "chẳng hạn như"
Cách dùng: [Danh từ ] + to itta
Chú ý: "to itta" khác với "to iu", "~ to iu" là "cái gọi là ~", "gọi là  ~"
レイシという果物 = trái cây gọi là vải
SAROMA JCLASS

Cách kết thúc câu tiếng Nhật

Chìa khóa: Tiếng Nhật tối sơ cấp, động từ "to be" tiếng Nhật

Học ngoại ngữ, câu đầu tiên thường là “Tôi là ...”, “Bạn là ...”, như trong tiếng Anh thì đây gọi là động từ “To Be”, tức là động từ “thì, là , ở”. Bạn có lẽ cũng quan tâm vấn đề này khi học tiếng Nhật. Vậy động từ “to be” trong tiếng Nhật là gì?

Bạn học tiếng Nhật thì chắc biết rằng không thể đơn thuần nói là “Watashi wa gakusei” được. Mặc dù dịch ra thì đúng là “Tôi là học sinh”. Bởi vì một danh từ không thể kết thúc câu. Chỉ có thể kết thúc câu bằng danh từ như trên nếu “wa” là động từ “to be” trong tiếng Nhật. Nhưng “wa” không phải động từ “to be” trong tiếng Nhật. Ai sẽ giải thích cho bạn vấn đề có vẻ rắc rối này ngoài ... Takahashi??

Trước hết, Takahashi đã có bài viết về việc Tiếng Nhật là ngôn ngữ chủ đề (Topic-prominent Language) và rất khác với các ngôn ngữ phương Tây. Chủ đề có thể không phải là chủ thể của hành động, Ví dụ, tiếng Nhật có thể nói:
  • バナナは食べる Banana wa taberu (Banana = chuối, taberu = ăn)
Câu này không có nghĩa là “Chuối ăn (thứ gì đó)” mà nghĩa là “Chuối thì tôi ăn”. Ở đây, “banana” chỉ là chủ đề mà thôi. Và câu này là trong một đoạn hội thoại, trong đó người nói câu này được hỏi là “Bạn ăn gì đó không?” chẳng hạn.

Và nếu bạn đọc loạt bài trợ từ tiếng Nhật của Saroma Lang, thì chắc chắn bạn cũng biết trợ từ “wa” (は, viết “ha” nhưng do là trợ từ nên đọc “wa”) trong tiếng Nhật là để đánh dấu chủ đề. Như vậy, trợ từ “wa” không phải là động từ “to be” = “thì / là / ở”.

Động từ “to be” tiếng Nhật thật ra nằm ở cuối câu.
  • Watashi wa gakusei desu = Tôi là học sinh.

“Desu” mới chính là khẳng định thứ gì là thứ gì. Có thể lược bớt “Watashi wa” đi mà nói thành “Gakusei desu” (mặc định chủ đề là “tôi”). Trong câu hỏi thì mặc định chủ đề là người đối thoại, tức nhân xưng thứ hai:
  • Gakusei desu ka = Bạn là học sinh phải không?

KẾT THÚC CÂU TRONG TIẾNG NHẬT

Bạn cần thay đổi một chút tư duy về ngôn ngữ. Kết thúc câu trong tiếng Nhật không thể là danh từ. Phải có “desu” sau danh từ để kết thúc. Tức là, có thể hiểu “desu” như là một dạng động từ vậy, gọi là động từ “to be” của tiếng Nhật cũng được.

Câu cũng có thể kết thúc bằng động từ:
- Sushi wo tabemasu = Tôi ăn cơm cá sống.

Ở đây “tabemasu” là động từ “ăn” (nguyên dạng là “taberu”).

Câu cũng có thể kết thúc là tính từ:
- Kare wa yasashii desu = Anh ấy hiền.
- Kare wa yasashii = Anh ấy hiền (dạng không lịch sự = plain form)

Tóm lại, câu tiếng Nhật phải kết thúc bằng một miêu tả, tức hành động (động từ) hay tính chất (tính từ) hay động từ “to be” là “desu”.

CÁC THỂ LOẠI CÂU TIẾNG NHẬT

Có 3 dạng câu tiếng Nhật cơ bản:

Dạng 1: Dạng lịch sự = “masu / desu” form

Dùng để giao tiếp lịch sự.

Dạng 2: Dạng không lịch sự (suồng sã, thân mật) = plain form

Dùng giao tiếp với bạn bè, trong gia đình. Thân mật hoặc suồng sã.

Dạng 3: Dạng viết = “dearu / Vdic.” form

Dùng viết luận văn, viết sách, báo chẳng hạn.


Mỗi dạng sẽ kết thúc câu khác nhau. Bạn hãy xem bảng dưới đây.


Nhận xét

  • Động từ và tính từ A-"i" để nguyên dạng được khi ở dạng Plain Form hay dạng viết, vì đó là hành động / tính chất (tức là miêu tả) kết thúc câu được
  • Tính từ A-"na" lại gần với danh từ nên sử dụng "desu / da/ dearu" để kết thúc.
  • Dạng "masu/desu" là dạng bạn nên nhớ kỹ vì bạn sẽ dùng dạng này nhiều nhất. Tính từ A-"i" dùng thêm "desu" là để cho lịch sự đó, vì nếu dùng không có "desu" thì lại thành dạng suồng sã Plain Form ngay ^^
3 dạng câu này là thông dụng nhất. Ngoài ra, có thể còn có dạng tôn kính / trang trọng nữa. Ví dụ, thay "desu" bằng "de gozaimasu":

私共は学生でございます Watakushi-domo wa gakusei de gozaimasu
Chúng em là học sinh ạ!

Trên đây là những điều cơ bản nhất cần nhớ khi bắt đầu học tiếng Nhật. Hi vọng sẽ giải đáp được những thắc mắc ban đầu của bạn!

(C) Saroma Lang 2014

Tham khảo thêm: Cách kết thúc câu dạng Plain Form
Chú ý: Bảng dưới cũng như bảng ở trên không đầy đủ mà chỉ để tham khảo. Ví dụ với danh từ thì dạng quá khứ phủ định là N dewanakatta.


➡ Dạng nối câu
➡ Dạng nối câu vs. Dạng kết thúc câu

Cách kết thúc câu tiếng Nhật

Cách kết thúc câu tiếng Nhật

Chìa khóa: Tiếng Nhật tối sơ cấp, động từ "to be" tiếng Nhật

Học ngoại ngữ, câu đầu tiên thường là “Tôi là ...”, “Bạn là ...”, như trong tiếng Anh thì đây gọi là động từ “To Be”, tức là động từ “thì, là , ở”. Bạn có lẽ cũng quan tâm vấn đề này khi học tiếng Nhật. Vậy động từ “to be” trong tiếng Nhật là gì?

Bạn học tiếng Nhật thì chắc biết rằng không thể đơn thuần nói là “Watashi wa gakusei” được. Mặc dù dịch ra thì đúng là “Tôi là học sinh”. Bởi vì một danh từ không thể kết thúc câu. Chỉ có thể kết thúc câu bằng danh từ như trên nếu “wa” là động từ “to be” trong tiếng Nhật. Nhưng “wa” không phải động từ “to be” trong tiếng Nhật. Ai sẽ giải thích cho bạn vấn đề có vẻ rắc rối này ngoài ... Takahashi??

Trước hết, Takahashi đã có bài viết về việc Tiếng Nhật là ngôn ngữ chủ đề (Topic-prominent Language) và rất khác với các ngôn ngữ phương Tây. Chủ đề có thể không phải là chủ thể của hành động, Ví dụ, tiếng Nhật có thể nói:
  • バナナは食べる Banana wa taberu (Banana = chuối, taberu = ăn)
Câu này không có nghĩa là “Chuối ăn (thứ gì đó)” mà nghĩa là “Chuối thì tôi ăn”. Ở đây, “banana” chỉ là chủ đề mà thôi. Và câu này là trong một đoạn hội thoại, trong đó người nói câu này được hỏi là “Bạn ăn gì đó không?” chẳng hạn.

Và nếu bạn đọc loạt bài trợ từ tiếng Nhật của Saroma Lang, thì chắc chắn bạn cũng biết trợ từ “wa” (は, viết “ha” nhưng do là trợ từ nên đọc “wa”) trong tiếng Nhật là để đánh dấu chủ đề. Như vậy, trợ từ “wa” không phải là động từ “to be” = “thì / là / ở”.

Động từ “to be” tiếng Nhật thật ra nằm ở cuối câu.
  • Watashi wa gakusei desu = Tôi là học sinh.

“Desu” mới chính là khẳng định thứ gì là thứ gì. Có thể lược bớt “Watashi wa” đi mà nói thành “Gakusei desu” (mặc định chủ đề là “tôi”). Trong câu hỏi thì mặc định chủ đề là người đối thoại, tức nhân xưng thứ hai:
  • Gakusei desu ka = Bạn là học sinh phải không?

KẾT THÚC CÂU TRONG TIẾNG NHẬT

Bạn cần thay đổi một chút tư duy về ngôn ngữ. Kết thúc câu trong tiếng Nhật không thể là danh từ. Phải có “desu” sau danh từ để kết thúc. Tức là, có thể hiểu “desu” như là một dạng động từ vậy, gọi là động từ “to be” của tiếng Nhật cũng được.

Câu cũng có thể kết thúc bằng động từ:
- Sushi wo tabemasu = Tôi ăn cơm cá sống.

Ở đây “tabemasu” là động từ “ăn” (nguyên dạng là “taberu”).

Câu cũng có thể kết thúc là tính từ:
- Kare wa yasashii desu = Anh ấy hiền.
- Kare wa yasashii = Anh ấy hiền (dạng không lịch sự = plain form)

Tóm lại, câu tiếng Nhật phải kết thúc bằng một miêu tả, tức hành động (động từ) hay tính chất (tính từ) hay động từ “to be” là “desu”.

CÁC THỂ LOẠI CÂU TIẾNG NHẬT

Có 3 dạng câu tiếng Nhật cơ bản:

Dạng 1: Dạng lịch sự = “masu / desu” form

Dùng để giao tiếp lịch sự.

Dạng 2: Dạng không lịch sự (suồng sã, thân mật) = plain form

Dùng giao tiếp với bạn bè, trong gia đình. Thân mật hoặc suồng sã.

Dạng 3: Dạng viết = “dearu / Vdic.” form

Dùng viết luận văn, viết sách, báo chẳng hạn.


Mỗi dạng sẽ kết thúc câu khác nhau. Bạn hãy xem bảng dưới đây.


Nhận xét

  • Động từ và tính từ A-"i" để nguyên dạng được khi ở dạng Plain Form hay dạng viết, vì đó là hành động / tính chất (tức là miêu tả) kết thúc câu được
  • Tính từ A-"na" lại gần với danh từ nên sử dụng "desu / da/ dearu" để kết thúc.
  • Dạng "masu/desu" là dạng bạn nên nhớ kỹ vì bạn sẽ dùng dạng này nhiều nhất. Tính từ A-"i" dùng thêm "desu" là để cho lịch sự đó, vì nếu dùng không có "desu" thì lại thành dạng suồng sã Plain Form ngay ^^
3 dạng câu này là thông dụng nhất. Ngoài ra, có thể còn có dạng tôn kính / trang trọng nữa. Ví dụ, thay "desu" bằng "de gozaimasu":

私共は学生でございます Watakushi-domo wa gakusei de gozaimasu
Chúng em là học sinh ạ!

Trên đây là những điều cơ bản nhất cần nhớ khi bắt đầu học tiếng Nhật. Hi vọng sẽ giải đáp được những thắc mắc ban đầu của bạn!

(C) Saroma Lang 2014

Tham khảo thêm: Cách kết thúc câu dạng Plain Form
Chú ý: Bảng dưới cũng như bảng ở trên không đầy đủ mà chỉ để tham khảo. Ví dụ với danh từ thì dạng quá khứ phủ định là N dewanakatta.


➡ Dạng nối câu

BẠN MUỐN DU HỌC NHẬT DỄ DÀNG??

Du học dễ dàng - Du học không dễ dàng

BẠN MUỐN DU HỌC NHẬT DỄ DÀNG??

Takahashi muốn nói về chủ đề "Du học dễ dàng - Du học không dễ dàng" bởi vì có nhiều bạn vẫn nghĩ du học là một việc gì đó rất khó khăn. Tất nhiên, có nhiều trường hợp thì đi du học là không dễ dàng, nhưng cũng có thể sẽ rất dễ dàng. Quan trọng là, bạn phải làm gì để việc du học của bạn trở nên dễ dàng hơn?

Quyết định đi du học thật là khó khăn phải không? Đương nhiên là phải như vậy, và cũng nên như vậy. Bạn phải cân nhắc kỹ vì nó liên quan đến tài chính, mà tài chính này lại không phải của bạn (thường là của gia đình hay vay đâu đó). Nếu bạn có nhiều tiền thì việc du học sẽ cực kỳ đơn giản. Tuy nhiên, nếu bạn thực sự có nhiều tiền thì bạn cũng nên tính toán chi phí sao cho rẻ nhất - Cũng là một cách học về tài chính mà không cần qua trường lớp.

Nếu bạn không có nhiều tiền trong tài khoản, và cũng không ai ủng hộ hay cho bạn vay tiền du học thì chắc chắn một điều: Ước mơ du học của bạn còn rất xa mới trở thành hiện thực!

Dưới đây là một số điều bạn nên cân nhắc và tiến hành để làm cho việc du học trở nên dễ dàng hơn.

Tài chính - Bảo lãnh

Bạn cần có một người bảo lãnh cho bạn. Người đó nên là cha/mẹ bạn, tuy nhiên không phải bạn nào cũng sống cùng cha/mẹ cả, nên tùy tình hình mà bạn tìm người bảo lãnh phù hợp cho bạn. Ví dụ cô ruột, chú ruột, nhìn chung là những người có liên quan về huyết thống. Nếu vẫn không có ai thì bạn có thể kiếm người nào thân thiết với bạn (nhưng không có quan hệ huyết thống).
Người bảo lãnh cần phải chứng minh thu nhập và chứng minh khả năng tài chính (cho việc du học của bạn). Sẽ cần một tờ đơn bảo lãnh (bảo đảm chu cấp tài chính cho bạn - theo form có sẵn) cũng như cần bản sao sổ tiết kiệm ngân hàng và chứng nhận số dư tài khoản của ngân hàng.
Tài chính du học: Ví dụ nếu đi theo chương trình Chikyujin, thì bạn sẽ phải trả trước ngay 6 tháng học phí và ký túc xá khoảng 600,000 yên - mức phí này hầu như chung cho mọi trường Nhật ngữ tại Nhật. Như vậy, bạn cần chuẩn bị ít nhất khoản tiền này kèm theo các chi phí kèm theo (dịch hồ sơ, phí gửi tiền chẳng hạn).

Sự ủng hộ của gia đình

Bạn nên có được sự ủng hộ của gia đình. Sẽ không nhiều gia đình muốn con cái họ đi xa, nhất là tới đất nước họ chưa biết gì. Họ cũng sợ con cái mình vất vả. Tuy nhiên, nếu bạn có đủ thông tin thì du học không phải là thứ gì vất vả hay quá sức. Bạn nên tìm hiểu thông tin về cuộc sống nước bạn muốn đến để thuyết phục gia đình, ví dụ chi phí sinh hoạt, mức sống, tiền ký túc xá, v.v...
Nếu bạn có thể cho gia đình thấy bạn có một con đường du học dễ dàng thì xác suất bạn nhận được sự ủng hộ sẽ cao hơn.
Nếu bạn muốn đi du học mà gia đình nhất định không cho? Có lẽ bạn phải cương quyết theo đuổi ước mơ của mình mà thôi. Nếu không, cơ hội có thể sẽ ra đi mãi mãi hoặc sẽ rất lâu sau bạn mới lại có cơ hội - lúc đó có khi bạn cũng không muốn nắm bắt nữa.

Mục đích du học

Để du học dễ dàng thì bạn nên hiểu là:
  • Du học không phải để kiếm tiền trả nợ
  • Du học không phải là để làm giàu gửi về cho gia đình
Du học là để có một tương lai tốt đẹp hơn (cơ hội việc làm tốt hơn, mức lương tốt hơn, giàu có hơn, hiểu biết về thế giới hơn, v.v...) nhưng trong quá trình du học bạn không nên tập trung kiếm tiền quá mức vì bạn còn phải đi học nữa. Nếu thành tích của bạn quá tệ, bạn không thi đỗ trường nào, v.v... thì bạn sẽ không có visa để ở lại Nhật. Tất nhiên, kiếm tiền bằng việc làm thêm là một việc rất chính đáng và bạn nên kiếm càng nhiều càng tốt trong phạm vi vẫn đảm bảo chất lượng cuộc sống của bạn và thành tích học tập trên trường (để còn thi lên cao / xin việc làm và lấy được visa ở Nhật tiếp).
Chú ý: Nếu bạn thi rớt trong quá trình học thì sẽ rất phiền và tốn kém (ví bạn phải xin được thỉnh giảng ở trường đại học, phải nộp tiền học phí và cũng chỉ được tối đa 6 tháng) nên mục đích kiếm tiền của bạn sẽ bị lung lay hay sụp đổ.
Bạn cũng phải hiểu là để du học Nhật thì bạn phải học tiếng Nhật, nên khi có ý định du học thì bạn phải xem mìnhđã sẵn sàng học tiếng Nhật chưa. Nếu bạn chẳng yêu thích tiếng Nhật hay văn hóa Nhật thì có lẽ bạn nên thử với du học các nước khác (Anh, Mỹ, Úc, Singapore, Malaysia, Thái Lan, v.v...), tóm lại là nước nào dễ nhất với bạn.
Ngay cả bạn muốn đi du học để kiếm tiền, thì bạn cũng nên tìm một mục đích du học khác để bạn có động lực học tập và sinh sống tại Nhật. => Không nên du học chỉ để kiếm tiền, hãy tìm thêm mục đích khác nữa.

Tiếng Nhật

Bạn nên chuẩn bị về tiếng Nhật, khi làm hồ sơ sẽ dễ được duyệt hơn, và cũng là để bạn chuẩn bị tốt hơn. Mục đích việc học / thi tiếng Nhật gồm có:
  • Thử xem bạn có sẵn sàng học ngôn ngữ này không
  • Khi sang Nhật không bỡ ngỡ
  • Có giấy tờ làm hồ sơ khi đăng ký du học Nhật
  • Dễ thuyết phục gia đình hơn (chẳng ai lại yên tâm cho bạn đi một nước mà một chữ bẻ đôi bạn cũng không biết! cho dù bạn có là một thiên tài thực sự)
Mình lưu ý là các giấy tờ có ích cho việc làm hồ sơ du học Nhật gồm có (bạn nên có ít nhất MỘT trong các thứ sau)
- Bằng cấp tiếng Nhật: Ví dụ JLPT, J-Test, NAT-TEST, v.v... hay sơ cấp, trung cấp, cao cấp (của các trung tâm Nhật ngữ)
- Nếu không lấy được bằng (thi rớt chẳng hạn) thì bạn dùng phiếu dự thi: Ví dụ phiếu dự kỳ thi của JLPT, phiếu báo kết quả
- Các bằng cấp tiếng Nhật khác: Ví dụ khóa tiếng Nhật chuyên sâu của trường XYZ
- Chứng nhận học tiếng Nhật: Bạn nên xin các trung tâm mà bạn đã từng học
Chú ý là kỳ thi lớn như JLPT chỉ tổ chức 2 lần 1 năm (tháng 7 và 12) và phải đăng ký trước khá lâu, chờ kết quả cũng khá lâu (2 tháng) nên có thể không kịp. Nếu không kịp bạn nên thi J-Test, NAT-Test (tổ chức 2 tháng 1 lần) và dùng các kết quả này.

Làm thủ tục du học không khó!

Đã có các form có sẵn. Chứng minh tài chính, chứng minh thu nhập cũng có trình tự có sẵn. Bạn chỉ cần dịch thuật và công chứng (ở đâu cũng được) một số tài liệu ra tiếng Nhật.
Nếu bạn có bằng cao đẳng hay đại học thì càng dễ hơn: Bạn chỉ cần bằng và bảng điểm. Còn nếu không thì bạn phải dùng bằng và học bạ cấp 3 (sẽ hơi dày và nặng tay!).

Điều quan trọng nhất: Quyết định của bạn

Điều quan trọng nhất vẫn là bạn có trả lời được các câu hỏi sau hay không mà thôi:
  • Tại sao mình muốn du học?
  • Mình sẽ cần các chi phí gì?
  • Mình sẽ được gì qua việc du học?
  • Đi Nhật có phải là ước mơ thực sự của mình không? v.v...
Bạn hãy tìm hiểu thông tin kỹ càng và quyết định hay nắm bắt cơ hội.

Nhiều con đường du học

Tôi xin liệt kê ra đây:
  • Con đường học bổng chính phủ Nhật: Bạn vào đại học, có thành tích năm 1 tốt và được đăng ký đi thi tại đại sứ quán Nhật => Nhận được học bổng đi Nhật
  • Thi kỳ thi EJU (kỳ thi lưu học sinh) tại Việt Nam => Đăng ký và được nhận vào trường có sử dụng kết quả EJU
  • Đi du học tự túc: Qua các trung tâm môi giới du học
  • Đi du học qua chương trình Chikyujin (vừa học vừa làm thêm)
  • Đi du học dạng trao đổi 1 năm: Ví dụ bạn học đại học Nhân văn, tiếng Nhật có bằng N1, N2 và thi phỏng vấn đậu; Hay các chương trình trao đổi sinh viên khác
  • Bạn liên hệ trực tiếp với trường Nhật ngữ tại Nhật để đi du học theo học bổng ... gia đình chu cấp!
Có rất nhiều cách du học. Nếu đi theo EJU thì bạn sẽ sang và học đại học 4 năm - sẽ rất dài mà chưa có thời gian chuẩn bị làm quen cuộc sống bên Nhật. Nhiều khi trường bạn chọn cũng không hẳn là trường bạn biết thông tin => Có thể chọn nhầm.
Đi du học tự túc: Phải vừa học vừa làm thêm, tuy nhiên lại hòa nhập cuộc sống bên Nhật và có thông tin chọn trường tốt hơn.
Đi du học kèm việc làm thêm: Bạn có thể an toàn về tài chính (có thể về nước sau học tiếng Nhật mà không thiệt hại).
Có học bổng cũng ... chưa chắc ngon lành!
Nhiều bạn nghĩ có học bổng chính phủ Nhật (học bổng MEXT) là sướng lắm, nhưng cũng chưa chắc như vậy. Bởi vì có học bổng thì bạn lại chẳng phải nỗ lực gì mấy nên mất cơ hội khám phá cuộc sống bên ngoài. Tiếng Nhật của bạn cũng chưa chắc giỏi (nhiều bạn cũng chẳng có bằng N1) vì ít cơ hội giao tiếp thực tế. Nếu bạn đi làm, ví dụ ở chợ cá, thì chắc chắn bạn xử lý tình huống tốt hơn chứ?! (chửi nhau vì một con cá chẳng hạn!).
Nên nhớ là: Cuộc sống của bạn sau này có hoành tráng hay không không phụ thuộc bạn có học bổng hay không, đi du học tự túc hay được chu cấp mà phụ thuộc vào những thứ bạn học được từ thế giới bên ngoài trong quá trình du học.
  留学=旅  
 DU HỌC LÀ MỘT CHUYẾN ĐI 
Bạn có đi chuyến đi này hay không?

Biến âm trong tiếng Nhật

Biến âm trong tiếng Nhật

Các bạn có thể gặp nhiều biến âm trong tiếng Nhật, ví dụ: "koi" là "tình yêu", "hito" là người còn người yêu là "koibito". Chữ "hito" được biến thành "bito" cho dễ đọc. Các bạn có thể xem danh sách ví dụ dưới đây:
  • 恋 koi + 人 hito = こいびと koibito (hi thành bi) (người yêu)
  • 手 te + 紙 kami = てがみ tegami (ka thành ga) (lá thư)
  • 国 koku + 家 ka = こっか kokka (ku thành âm lặp tsu nhỏ) (quốc gia)
  • 発 hatsu + 展 ten = はってん hatten (tsu thành âm lặp tsu nhỏ) (phát triển)
  • 脱 datsu + 出 shutsu = だっふつ dasshutsu (tsu thành âm lặp tsu nhỏ) (thoát ra)
  • つけっ放し tsukeppanashi (bật máy móc, điện,... rồi để đó không dùng): hanashi thành panashi
  • 日々: hibi (ngày ngày), chữ 々 là để chỉ lặp lại chữ trước đó, "hi" biến thành "bi"
  • 人々: hitobito (người người), chữ "hito" thứ hai biến thành "bito"
  • 国々: kuniguni (các nước), "kuni" thành "guni"
  • 近頃: chika (gần) và koro (dạo) thành chikagoro = "dạo này" (koro thành goro)
  • 賃金: chin (tiền công) và kin (tiền) thành chingin (tiền công), "kin" thành "gin"
  • 順風満帆: "thuận phong mãn phàn" (thuận lợi như được gió căng buồm), các chữ riêng là "jun + fuu + man + han" thành jumpuumampan
  • それぞれ: sorezore (lần lượt là, từng cái là)
  • 青空=あおぞら: ao + sora = aozora (bầu trời xanh)
Các bạn có thể thấy là cách đọc một số âm trong từ ghép hay từ lặp có thay đổi trong các ví dụ trên. Tại sao lại biến âm như vậy? Mục đích là để cho dễ đọc và tránh nói nhầm. Ví dụ chữ 賃金 nếu nói nguyên là "chinkin" thì rất khó phát âm còn nói là "chingin" thì dễ phát âm hơn. Các âm đục bao giờ cũng dễ phát âm hơn các âm trong, ví dụ "sore zore" dễ phát âm hơn "sore sore". Dưới đây là các quy tắc biến âm trong tiếng Nhật.

Quy tắc biến âm trong tiếng Nhật
(1) Từ ghép hay từ lặp: Hàng "ha" (ha hi fu he ho) thành hàng "ba" (ba bi bu be bo) vốn là âm đục của hàng "ha".
は ひ ふ へ ほ → ば び ぶ べ ぼ
Các bạn có thể thấy là âm đục có cách viết y nguyên chỉ thêm vào dấu nháy ký hiệu.
Ví dụ: koi + hito = koibito, 日 hi + 日 hi = 日々 hibi (ngày ngày)
(2) Hàng "ka" thì thành hàng "ga"
か き く け こ → が ぎ ぐ げ ご
Ví dụ: 近頃 chika + koro = chikagoro
(3) Hàng "sa" thành hàng "za"
さ し す せ そ → ざ じ ず ぜ ぞ
Ví dụ 矢印 ya (mũi tên) + shirushi (dấu) = yajirushi, 中島 naka + shima = nakajima (tên người)
(4) Hàng "ka" mà được tiếp nối bởi một âm hàng "ka" tiếp thì biến thành âm lặp (tsu nhỏ)
Ví dụ: 国旗 (quốc kỳ) koku + ki = kokki こっき chứ không thành kokuki
(5) Hàng "ha" mà đi theo sau chữ "tsu" つ thì chữ "tsu" biến thành âm lặp (tsu nhỏ) còn hàng "ha" sẽ thành hàng "pa"
は ひ ふ へ ほ → ぱ ぴ ぷ ぺ ぽ
Ví dụ: 活発(かつ+はつ)=かっぱつ, katsu + hatsu = kappatsu
Hàng "ha" mà đi sau âm lặp (chữ "tsu" nhỏ = "っ") thì thành hàng "pa"
Ví dụ: つけっぱなし
(6) Hàng "ka" mà đi sau "n" (ん) thì thành hàng "ga"
Ví dụ: 賃金=ちんぎん
(7) Hàng "ha" đi sau "n" (ん) thì thường thành hàng "pa" (phần lớn) hoặc hàng "ba" (ít hơn)
Ví dụ: 根本=こんぽん, kon + hon = kompon (căn bản)
(8) Âm "n" (ん) ở ngay trước hàng "pa" hay hàng "ba" hay hàng "ma" thì phải đọc là "m" thay vì "n"
Ví dụ: 根本=こんぽん kompon, 日本橋=にほんばし nihombashi, あんまり ammari

Tất nhiên là cũng có một số ngoại lệ. Các bạn tự tìm thêm các quy tắc cho mình nhé.

Nối câu tiếng Nhật

Nối câu tiếng Nhật

Đây là đề thi N5:

Chọn từ nằm ở vị trí ★:

目の  中に                                 ★                  です。
1  いたい   2  入って   3  何か   4  が

Bạn chọn từ nào?

Đây là dạng nối câu tiếng Nhật:
目の  中に  何か  が 入って いたい です。
Tức là: Có thứ gì đó (nanika) rơi vào mắt và tôi thấy đau (itai). Đáp án: 2 (入って haitte)

いたい itai ở đây không phải là dạng "muốn" (Xem bài "Vê-tai") mà là 痛い itai tức là tính từ "i" nghĩa là "đau". Khi viết bằng hiragana, chúng ta thấy khó hiểu và rất dễ làm sai hoặc nghĩ là ... đề sai.

Saroma Lang đã hệ thống hóa lại nối câu trong tiếng Nhật:

Nối câu tiếng Nhật dạng lịch sự (desu/masu form)

Dữ liệu được ảnh hóa để phòng tránh nạn ăn cắp bài viết.

Các ký hiệu được hiểu như sau đây:

Một số cách chia các loại từ tiếng Nhật

Bài tham khảo: Chia động từ tiếng Nhật  Chia động từ qua biến âm

Tất nhiên là bạn có thể nối câu dài bao nhiêu tùy thích miễn là đúng ngữ pháp:
N1で N2で V1て V2で A{な}で A{い}くて V3て N3 です。

Bạn có thể kể ra cả cuộc đời của bạn trong một câu và sử dụng nối câu, nhưng ai thèm nghe? Những câu kiểu như thế này:
19XY年に生まれてA県で育ってB小学校に通って卒業した後にC中学校に進学して3年間後D高校に入学して19ZT年に卒業してしばらくアルバイトしながら生活してから、大学に受験して不合格になって放浪生活をしていて、その中まだ大学に入りたいと思ったため、再び大学に受験して今回は合格して入学して夢をなかなか見つからずに在学してた。

Đau cả đầu, ai thèm đọc? Vì thế, tôi khuyên thật: Nói gì cũng nói câu đơn thôi cho nó lành.

Nếu bạn có ý định đi du học Nhật Bản theo cách dễ dàng, hãy cố gắng ôn luyện tiếng Nhật trước khi sang Nhật.

Nối câu dạng viết

Trong bài Cách kết thúc câu tiếng Nhật, tôi có nói về dạng viết "dearu". Dạng này sử dụng V{ます} để nối câu. Ví dụ: kaerimasu => kaeri, tabemasu => tabe. Tất nhiên, dùng dạng TE/DE form để nối câu cũng không sao nhưng không đồng bộ lắm thôi.

Ví dụ: 家に帰りご飯を食べた Ie ni kaeri gohan wo tabeta. Tôi về nhà và ăn cơm.

Nếu dùng dạng "desu/masu" thì là Ie ni kaette gohan wo tabemashita. Chú ý là trong văn viết, bài phát biểu, nói chuyện trang trọng thì dùng dạng V{ます} sẽ tốt hơn là Vて/で (dạng TE/DE).

Ví dụ:
日本へ留学しX大学で工学を勉強しております。
Nihon e ryuugaku shi X daigaku de kougaku wo benkyou shite orimasu.
Tôi đi du học Nhật Bản và đang học ngành kỹ thuật tại đại học X.

Ở đây không dùng "ryuugaku shite" (dạng TE/DE) mà dùng "ryuugaku shi" (dạng V{masu}) để nối câu.

➡ Dạng kết thúc câu
➡ Dạng nối câu vs. Dạng kết thúc câu

Dành cho các bạn tạo nội dung trên Internet:

Để đối phó với nạn ăn cắp bài viết theo dạng lấy nội dung, xóa chữ ký và không đặt link bài viết gốc, không ghi nguồn, Saroma Lang sử dụng biện pháp "ảnh hóa" và có đóng dấu bản quyền lên ảnh. Nếu các trang chuyên chôm bài (nhất là các Facebook Page lập ra chỉ để chôm bài và môi giới việc làm thu lời bất chính) muốn ăn cắp nội dung, họ sẽ phải nhọc sức. Nhưng họ sẽ không nhọc sức vì họ chỉ muốn ăn sẵn thôi và bản thân họ cũng rất sợ bị ăn cắp công sức.

Bạn có thể tham khảo cách đóng dấu lên ảnh: Cách 1 (GIMP) - Cách 2 (paint.NET).

Nếu muốn làm gì lâu dài, chúng ta phải tạo nội dung (content), đồng thời có biện pháp đối phó với bọn ăn cắp trí tuệ. Chắc chắn là, bọn ăn cắp sẽ phải tự cạnh tranh với nhau và cũng sẽ ăn cắp của nhau. Cách làm của họ sẽ rất cực nhọc và cứ để họ chọn cách cực nhọc đó không sao. Tôi sẽ tiếp tục cập nhật các cách chống ăn cắp bài viết mới nhất.

Copyright @ 2013 Học Tiếng Nhật 123 .Blogspot. Designed by Templateism | Love for The Globe Press